|
|
Công cụ bài viết | Kiểu hiển thị |
|
#1
|
|||
|
|||
|
Bài 11 - Mạch kẹp và mạch giao hoán Bài 1 - Lý thuyết bán dẫn Bài 2- Phân tích mạch chứa diode Bài 3 - Transistor lưỡng cực (Bipolar Junction Transistor) Bài 4 - Transistor hiệu ứng trường (Field-Effect Transistors) Bài 5 - Các mạch khuếch đại BJT tín hiệu nhỏ Bài 6 - Mạch khuếch đại đa tầng Bài 7 - Khuếcg đại hồi tiếp âm và dao động sin Bài 8 - Các mạch sử dụng OPAMP Bài 9 - Mạch sửa dạng sóng tuyến tính RC Bài 10 - Mạch xén và mạch so sánh http://diendandien.com/dien-dien-tu-...ivibrator.html 11-1Mạch kẹpMột công việc thường được thực hiện đối với các tín hiệu tuần hoàn là đặt lại vị trí của đỉnh dương hoặc đỉnh âm của tín hiệu đến một mức tham khảo [SUB] [/SUB] nào đó. Các mạch thực hiện việc này được gọi là mạch kẹp (clampping circuit). Nói chung, bất cứ khi nào một điểm trong mạch được kết nối qua một trở kháng thấp đến một nguồn tham khảo [SUB] [/SUB], ta nói là điểm đó được kẹp tại điện áp [SUB] [/SUB], vì điện áp của điểm này sẽ không thể quá sai lệch so với [SUB] [/SUB]. Mạch diode trong hình 10-2 là một ví dụ của mạch kẹp như vậy vì ngõ ra bị kẹp tại [SUB] [/SUB] bất cứ khi nào ngõ vào vượt quá [SUB] [/SUB]. Trong các mạch này, chỉ một chiều thay đổi của điện áp là bị kẹp nên ta gọi chúng là các mạch kẹp một chiều. Hai diode có thể được dùng để tạo nên mạch kẹp hai chiều.Như ta đã biết, khi một tín hiệu được đưa qua một mạch bằng cách ghép tụ, thành phần dc của tín hiệu sẽ bị mất. Trong những trường hợp này, mạch kẹp thường được dùng để phục hồi thành phần dc, do đó nó còn có tên là mạch tái tạo dc. Dạng sóng Xét hình 11-1, bao gồm một nguồn [SUB] [/SUB] với nội trở có thể bỏ qua, một tụ và một diode [SUB] [/SUB]. Giả sử là diode lý tưởng, tức là điểm gián đoạn của nó xảy ra tại [SUB] [/SUB] và điện trở phân cực thuận là không. Tín hiệu vào là một sóng sin bắt đầu tại [SUB] [/SUB]. Tụ [SUB] [/SUB] không mang điện tích tại [SUB] [/SUB]. Ta sẽ tìm dạng sóng ngõ ra [SUB] [/SUB] trên diode.![]() Trong một phần tư chu kỳ đầu tiên, tín hiệu vào tăng từ không đến giá trị tối đa [SUB] [/SUB]. Diode là lý tưởng nên áp rơi trên nó là không. Kết quả là trong suốt một phần tư chu kỳ đầu tiên, [SUB] [/SUB]. Điện áp trên tụ [SUB] [/SUB] tăng theo hình sin, tụ nạp điện thông qua nguồn và diode. Như vậy, lúc này [SUB] [/SUB] là không. Tại cuối của khoảng thời gian này áp rơi trên tụ là [SUB] [/SUB].Sau một phần tư chu kỳ này, tín hiệu bắt đầu giảm xuống, điện áp trên tụ không thể bám theo tín hiệu vào vì tụ không thể xả thông qua diode lúc này đang bị phân cực ngược. Điện áp trên tụ tiếp tục duy trì là [SUB] [/SUB], điện áp ngõ ra là [SUB] [/SUB]. Trong suốt các chu kỳ tiếp theo, đỉnh dương của tín hiệu ra chỉ có thể đạt đến không. Diode không bao giờ dẫn trở lại và đỉnh dương của tín hiệu ra bị kẹp tại không.Giả sử là sau khi đạt đến trạng thái xác lập, biên độ tín hiệu vào tăng lên. Khi đó, trong suốt một phần tư chu kỳ đầu tiên, diode sẽ lại dẫn. Điện áp dc trên tụ [SUB] [/SUB] sẽ lại tăng và một lần nữa đỉnh dương của tín hiệu ra sẽ bị kẹp lại tại mức không. Nhưng nếu biên độ của tín hiệu vào giảm xuống thì điều gì sẽ xảy ra? Trong trường hợp này, rõ ràng là điện áp dc trên tụ cần phải giảm theo nhưng trong mạch hình 11-1 không có cách nào để làm được điều này. Để điện áp trên tụ có thể giảm, cần có một điện trở mắc shunt với tụ hoặc qua diode. Trong trường hợp thứ hai, tụ sẽ xả thông qua một mạch nối tiếp gồm điện trở shunt của diode và nội trở nguồn.Mạch hình 11-2(a) trình bày trường hợp có điện trở [SUB] [/SUB]. Hình 11-2(b) vẽ dạng sóng ngõ ra cho trường hợp biên độ tín hiệu vào hình sin đột ngột giảm xuống. hai chu kỳ đầu tiên tương ứng với giai đoạn xác lập trước đó. Tại thời điểm [SUB] [/SUB], biên độ tín hiệu đột ngột giảm xuống. Vì tụ không thể xả một cách nhanh chóng, đỉnh dương của ngõ ra giảm xuống dưới không một chút trước khi bị kẹp lại tại [SUB] [/SUB]. Điện áp trên tụ [SUB] [/SUB] giảm dần theo hàm mũ khi tụ xả và sau một vài chu kỳ, đỉnh dương sẽ bằng không trở lại. Trong trường hợp này, không giống với trường hợp không có [SUB] [/SUB], có dòng chảy qua tại mỗi đỉnh dương. Ngay cả khi điện áp trên tụ giảm đến giá trị làm cho đỉnh dương đạt đến không tụ vẫn tiếp tục xả thông qua [SUB] [/SUB] và nội trở nguồn. Lúc này diode sẽ hỗ trợ cho tụ điện. Vì tụ xả chậm nên diode không phải luôn dẫn mà chỉ cần dẫn trong một phần nhỏ của chu kỳ để nạp lại cho tụ các điện tích bị mất.Ta thử xem dạng sóng xung quanh đỉnh dương khi diode dẫn. Phần dạng sóng này được trình bày trên hình 11-2(c). Nếu không có diode, tín hiệu sẽ đi theo đường đứt nét với đỉnh tại [SUB] [/SUB]. Nhưng nhờ diode, phần tín hiệu giữa [SUB] [/SUB] và [SUB] [/SUB] bị kẹp tại [SUB] [/SUB]. [SUB] [/SUB] là thời điểm tại đó tín hiệu sin vừa đạt đến không. Để ít méo dạng, tụ phải bị mất ít điện tích trong quá trình xả, điều này đòi hỏi thời hằng [SUB] [/SUB] phải rất lớn khi so sánh với chu kỳ của tín hiệu.![]() 11-2Mạch kẹp khi xét đến điện trở diode và nội trở nguồn Hình 11-3 là mạch đã được bổ sung nội trở nguồn [SUB] [/SUB] và một điện trở phân cực thuận cho diode [SUB] [/SUB]. Điện trở[SUB] [/SUB] có giá trị khoảng vài chục đến vài trăm ohms tùy theo loại diode được sử dung. Nội trở nguồn có thể bỏ qua hoặc có thể lên đến vài ngàn ohms tùy theo nguồn. Giả sử là điểm gián đoạn của diode [SUB] [/SUB] xảy ra tại [SUB] [/SUB].Như ta sẽ thấy, độ chính xác của mạch tùy thuộc vào điều kiện [SUB] [/SUB]. Để phân tích mạch ta có thể vẽ mạch tương đương của mạch này khi cần tính [SUB] [/SUB] như hình 11-4(a). Mạch hình 11-4(a) được dùng khi diode dẫn và hình 11-4(b) được dùng khi diode không dẫn. Nếu [SUB] [/SUB] là không đúng thì từ hình 11-4(a), [SUB] [/SUB] phải được thay bằng hai điện trở [SUB] [/SUB] và [SUB] [/SUB] mắc song song.Trong hình 11-4(b), nếu điện trở trong vùng tắt của diode không rất lớn hơn [SUB] [/SUB] thì điện trở [SUB] [/SUB] cũng phải được thay bằng tổ hợp song song của hai điện trở. Trong một số trường hợp, trong mạch thật ra không có [SUB] [/SUB], điện trở này có thể là điện trở phân cực ngược [SUB] [/SUB] của diode. |
| Công cụ bài viết | |
| Kiểu hiển thị | |
|
|