Đăng nhập
Tìm kiếm
Chào mừng bạn đến với Chợ thông tin Thiết bị điện Việt Nam.
» Nếu đây là lần đầu tiên bạn tham gia diễn đàn, xin mời bạn xem phần hỏi/đáp để biết cách dùng diễn đàn.
» Để có thể tham gia thảo luận, các bạn phải đăng ký làm thành viên, click vào đây để đăng ký.
Vui lòng nhấn để đăng ký.
Trả lời
 
Công cụ bài viết Kiểu hiển thị
  #1  
Cũ 16-04-2013, 09:30 AM
dogothanhhien dogothanhhien đang online
Junior Member
 
Tham gia ngày: Jun 2012
Bài gửi: 6
Mặc định Bài 11 - Mạch kẹp và mạch giao hoán

Hệ thống quảng cáo SangNhuong.com

Bài 11 - Mạch kẹp và mạch giao hoán



Bài 1 - Lý thuyết bán dẫn
Bài 2- Phân tích mạch chứa diode
Bài 3 - Transistor lưỡng cực (Bipolar Junction Transistor)
Bài 4 - Transistor hiệu ứng trường (Field-Effect Transistors)
Bài 5 - Các mạch khuếch đại BJT tín hiệu nhỏ
Bài 6 - Mạch khuếch đại đa tầng
Bài 7 - Khuếcg đại hồi tiếp âm và dao động sin
Bài 8 - Các mạch sử dụng OPAMP
Bài 9 - Mạch sửa dạng sóng tuyến tính RC
Bài 10 - Mạch xén và mạch so sánh
http://diendandien.com/dien-dien-tu-...ivibrator.html



11-1Mạch kẹpMột công việc thường được thực hiện đối với các tín hiệu tuần hoàn là đặt lại vị trí của đỉnh dương hoặc đỉnh âm của tín hiệu đến một mức tham khảo [SUB][/SUB] nào đó. Các mạch thực hiện việc này được gọi là mạch kẹp (clampping circuit). Nói chung, bất cứ khi nào một điểm trong mạch được kết nối qua một trở kháng thấp đến một nguồn tham khảo [SUB][/SUB], ta nói là điểm đó được kẹp tại điện áp [SUB][/SUB], vì điện áp của điểm này sẽ không thể quá sai lệch so với [SUB][/SUB]. Mạch diode trong hình 10-2 là một ví dụ của mạch kẹp như vậy vì ngõ ra bị kẹp tại [SUB][/SUB] bất cứ khi nào ngõ vào vượt quá [SUB][/SUB]. Trong các mạch này, chỉ một chiều thay đổi của điện áp là bị kẹp nên ta gọi chúng là các mạch kẹp một chiều. Hai diode có thể được dùng để tạo nên mạch kẹp hai chiều.
Như ta đã biết, khi một tín hiệu được đưa qua một mạch bằng cách ghép tụ, thành phần dc của tín hiệu sẽ bị mất. Trong những trường hợp này, mạch kẹp thường được dùng để phục hồi thành phần dc, do đó nó còn có tên là mạch tái tạo dc.
Dạng sóng
Xét hình 11-1, bao gồm một nguồn [SUB][/SUB] với nội trở có thể bỏ qua, một tụ và một diode [SUB][/SUB]. Giả sử là diode lý tưởng, tức là điểm gián đoạn của nó xảy ra tại [SUB][/SUB] và điện trở phân cực thuận là không. Tín hiệu vào là một sóng sin bắt đầu tại [SUB][/SUB]. Tụ [SUB][/SUB] không mang điện tích tại [SUB][/SUB]. Ta sẽ tìm dạng sóng ngõ ra [SUB][/SUB] trên diode.

Trong một phần tư chu kỳ đầu tiên, tín hiệu vào tăng từ không đến giá trị tối đa [SUB][/SUB]. Diode là lý tưởng nên áp rơi trên nó là không. Kết quả là trong suốt một phần tư chu kỳ đầu tiên, [SUB][/SUB]. Điện áp trên tụ [SUB][/SUB] tăng theo hình sin, tụ nạp điện thông qua nguồn và diode. Như vậy, lúc này [SUB][/SUB] là không. Tại cuối của khoảng thời gian này áp rơi trên tụ là [SUB][/SUB].
Sau một phần tư chu kỳ này, tín hiệu bắt đầu giảm xuống, điện áp trên tụ không thể bám theo tín hiệu vào vì tụ không thể xả thông qua diode lúc này đang bị phân cực ngược. Điện áp trên tụ tiếp tục duy trì là [SUB][/SUB], điện áp ngõ ra là [SUB][/SUB]. Trong suốt các chu kỳ tiếp theo, đỉnh dương của tín hiệu ra chỉ có thể đạt đến không. Diode không bao giờ dẫn trở lại và đỉnh dương của tín hiệu ra bị kẹp tại không.
Giả sử là sau khi đạt đến trạng thái xác lập, biên độ tín hiệu vào tăng lên. Khi đó, trong suốt một phần tư chu kỳ đầu tiên, diode sẽ lại dẫn. Điện áp dc trên tụ [SUB][/SUB] sẽ lại tăng và một lần nữa đỉnh dương của tín hiệu ra sẽ bị kẹp lại tại mức không. Nhưng nếu biên độ của tín hiệu vào giảm xuống thì điều gì sẽ xảy ra? Trong trường hợp này, rõ ràng là điện áp dc trên tụ cần phải giảm theo nhưng trong mạch hình 11-1 không có cách nào để làm được điều này. Để điện áp trên tụ có thể giảm, cần có một điện trở mắc shunt với tụ hoặc qua diode. Trong trường hợp thứ hai, tụ sẽ xả thông qua một mạch nối tiếp gồm điện trở shunt của diode và nội trở nguồn.
Mạch hình 11-2(a) trình bày trường hợp có điện trở [SUB][/SUB]. Hình 11-2(b) vẽ dạng sóng ngõ ra cho trường hợp biên độ tín hiệu vào hình sin đột ngột giảm xuống. hai chu kỳ đầu tiên tương ứng với giai đoạn xác lập trước đó. Tại thời điểm [SUB][/SUB], biên độ tín hiệu đột ngột giảm xuống. Vì tụ không thể xả một cách nhanh chóng, đỉnh dương của ngõ ra giảm xuống dưới không một chút trước khi bị kẹp lại tại [SUB][/SUB]. Điện áp trên tụ [SUB][/SUB] giảm dần theo hàm mũ khi tụ xả và sau một vài chu kỳ, đỉnh dương sẽ bằng không trở lại. Trong trường hợp này, không giống với trường hợp không có [SUB][/SUB], có dòng chảy qua tại mỗi đỉnh dương. Ngay cả khi điện áp trên tụ giảm đến giá trị làm cho đỉnh dương đạt đến không tụ vẫn tiếp tục xả thông qua [SUB][/SUB] và nội trở nguồn. Lúc này diode sẽ hỗ trợ cho tụ điện. Vì tụ xả chậm nên diode không phải luôn dẫn mà chỉ cần dẫn trong một phần nhỏ của chu kỳ để nạp lại cho tụ các điện tích bị mất.
Ta thử xem dạng sóng xung quanh đỉnh dương khi diode dẫn. Phần dạng sóng này được trình bày trên hình 11-2(c). Nếu không có diode, tín hiệu sẽ đi theo đường đứt nét với đỉnh tại [SUB][/SUB]. Nhưng nhờ diode, phần tín hiệu giữa [SUB][/SUB] và [SUB][/SUB] bị kẹp tại [SUB][/SUB]. [SUB][/SUB] là thời điểm tại đó tín hiệu sin vừa đạt đến không. Để ít méo dạng, tụ phải bị mất ít điện tích trong quá trình xả, điều này đòi hỏi thời hằng [SUB][/SUB] phải rất lớn khi so sánh với chu kỳ của tín hiệu.

11-2Mạch kẹp khi xét đến điện trở diode và nội trở nguồn
Hình 11-3 là mạch đã được bổ sung nội trở nguồn [SUB][/SUB] và một điện trở phân cực thuận cho diode [SUB][/SUB]. Điện trở[SUB][/SUB] có giá trị khoảng vài chục đến vài trăm ohms tùy theo loại diode được sử dung. Nội trở nguồn có thể bỏ qua hoặc có thể lên đến vài ngàn ohms tùy theo nguồn. Giả sử là điểm gián đoạn của diode [SUB][/SUB] xảy ra tại [SUB][/SUB].







Như ta sẽ thấy, độ chính xác của mạch tùy thuộc vào điều kiện [SUB][/SUB]. Để phân tích mạch ta có thể vẽ mạch tương đương của mạch này khi cần tính [SUB][/SUB] như hình 11-4(a). Mạch hình 11-4(a) được dùng khi diode dẫn và hình 11-4(b) được dùng khi diode không dẫn. Nếu [SUB][/SUB] là không đúng thì từ hình 11-4(a), [SUB][/SUB] phải được thay bằng hai điện trở [SUB][/SUB] và [SUB][/SUB] mắc song song.Trong hình 11-4(b), nếu điện trở trong vùng tắt của diode không rất lớn hơn [SUB][/SUB] thì điện trở [SUB][/SUB] cũng phải được thay bằng tổ hợp song song của hai điện trở. Trong một số trường hợp, trong mạch thật ra không có [SUB][/SUB], điện trở này có thể là điện trở phân cực ngược [SUB][/SUB] của diode.


Trả lời với trích dẫn


CHUYÊN MỤC ĐƯỢC TÀI TRỢ BỞI
  #2  
Cũ 16-04-2013, 09:31 AM
xuanhoahcm xuanhoahcm đang online
Junior Member
 
Tham gia ngày: Jun 2012
Bài gửi: 4
Mặc định

Hệ thống quảng cáo SangNhuong.com

Dạng sóng quá độBây giờ ta sẽ xem xét dạng sóng ngõ ra khi một tín hiệu đột ngột được đặt vào mạch và xem mạch đạt đến trạng thái xác lập như thế nào. Sau một số chu kỳ, mạch sẽ đạt đến trạng thái xác lập trong đó đỉnh dương sẽ bị kẹp tại không. Trong trường hợp đó ta sẽ dùng mạch tương đương như hình 11-4 và xử lý như trong ví dụ sau.

Giả sử trong mạch hình 11-3, [SUB][/SUB] và [SUB][/SUB]. Tại [SUB][/SUB], một tín hiệu sóng vuông đối xứng với biên độ [SUB][/SUB], tần số [SUB][/SUB] được đặt vào mạch. Như được trình bày trong hình 11-5, tín hiệu [SUB][/SUB] đi từ [SUB][/SUB] đến [SUB][/SUB]. Hãy vẽ vài chu kỳ đầu tiên của dạng sóng ngõ ra.
Để phân tích được mạch này, ta giả sử tụ [SUB][/SUB] không tích điện ở thời điểm đầu. Dùng mạch tương đương trong hình 11-4(a) ta có, tại lần nhảy lên [SUB][/SUB] đầu tiên của tín hiệu vào, ngõ ra nhảy đến [SUB][/SUB]. Ngõ ra sau đó suy giảm dần về không theo hàm mũ với thời hằng
[SUB][/SUB]
Vì chu kỳ [SUB][/SUB] nên tại cuối nửa chu kỳ sóng vuông, tại thời điểm [SUB][/SUB], ngõ ra rơi xuống đến [SUB][/SUB].
Tại thời điểm này, vì điện áp trên [SUB][/SUB] là [SUB][/SUB] nên điện áp trên tụ là [SUB][/SUB]. Tại thời điểm [SUB][/SUB], ngõ vào hạ xuống không, diode tắt và ta dùng hình 11-4(b). Trong mạch này, [SUB][/SUB] và [SUB][/SUB], nếu bỏ qua [SUB][/SUB] khi so sánh với [SUB][/SUB] thì [SUB][/SUB] như trong hình 11-5. Ngõ ra sau đó lại bắt đầu suy giảm về không. Tuy nhiên, thời hằng bây giờ là [SUB][/SUB], tức là lớn hơn 100 lần so với [SUB][/SUB]. Do đó độ suy giảm là có thể bỏ qua và không được chỉ ra trong hình.

Vì trong khoảng [SUB][/SUB] đến [SUB][/SUB] điện áp trên tụ không thay đổi, nên tại thời điểm [SUB][/SUB], ngõ ra sẽ trở lại [SUB][/SUB]. Sau đó ngõ ra lại tiếp tục suy giảm về không. Phần suy giảm trong khoảng [SUB][/SUB] đến [SUB][/SUB] là một sự liên tục của phần trong khoảng [SUB][/SUB] đến [SUB][/SUB]. Nếu tắt cả các đoạn suy giảm được ghép chung lại với nhau, chúng sẽ tạo nên một dạng sóng liên tục suy giảm theo hàm mũ từ [SUB][/SUB] đến [SUB][/SUB].
Tại [SUB][/SUB] thì [SUB][/SUB]. Quá trình tính toán lại lặp lại như trên và kết quả được trình bày trong hình. Các chu kỳ tiếp sau, dạng sóng đã xấp xỉ trạng thái xác lập khi đỉnh dương bị kẹp tại giá trị xấp xỉ [SUB][/SUB].
Trả lời với trích dẫn


  #3  
Cũ 16-04-2013, 09:31 AM
luonghuongcoltd luonghuongcoltd đang online
Junior Member
 
Tham gia ngày: Jun 2012
Bài gửi: 5
Mặc định

Trong hình 11-6 vẽ một transistor trong đó tải là một cuộn cảm [SUB][/SUB] mắc song song với điện trở [SUB][/SUB]. Dạng sóng với mức dc tùy ý trong hình 11-7(a) được đặt vào mạch. Khi đó transistor sẽ chuyển từ trạng thái bão hòa sang trạng thái tắt. Điện trở [SUB][/SUB] trong mạch collector được dùng để hạn dòng trong trường hợp transistor bão hòa.

Sau khi transistor nằm trong vùng bão hòa trong một thời gian đủ dài để tất cả quá trình quá độ bị suy giảm, cuộn cảm sẽ có dòng [SUB][/SUB]. Tức thời ngay tại thời điểm transistor chuyển sang trạng thái tắt, mạch tương đương để tính ngõ ra được vẽ trong hình 11-6(c). Ta bỏ qua dòng rò của transistor khi ở trạng thái tắt. Dòng cuộn cảm, phải chảy qua [SUB][/SUB], sẽ giảm dần từ [SUB][/SUB] về không với thời hằng [SUB][/SUB]. Điện áp ngõ ra được vẽ trong hình 8-24(b) và được cho bởi
[SUB][/SUB] (11-1)
Do đó, khi transistor bị lái vào trạng thái tắt, tại collector sẽ xuất hiện một gai dương với biên độ [SUB][/SUB] xếp chồng lên điện áp nguồn cung cấp. Gai dương này có thể trở nên rất lớn khi [SUB][/SUB] lớn. Trong thực tế, điện áp đỉnh có thể bị giới hạn bởi điện dung ngang qua cuộn cảm, nhưng ngay cả trong trường hợp này, điện áp đỉnh cũng có thể lớn hơn vài lần so với áp nguồn.
Khi công tắc trở lại trạng thái bão hoà tại thời điểm [SUB][/SUB], cuộn cảm lúc này tức thời hở mạch. Dòng transistor chảy qua [SUB][/SUB] là [SUB][/SUB].
Đặt [SUB][/SUB] là dòng transistor tức thời chảy qua transistor tại thời điểm On. Dòng chảy qua [SUB][/SUB] sẽ giảm dần từ [SUB][/SUB] về không với hằng số thời gian [SUB][/SUB], trong đó [SUB][/SUB] bằng [SUB][/SUB] song song với [SUB][/SUB]. Ngõ ra khi [SUB][/SUB] là
[SUB][/SUB] (11-2)
và có dạng gai âm như trong hình 11-7(b) xếp chồng lên điện áp nguồn cung cấp. Gai âm luôn luôn nhỏ hơn điện áp nguồn vì điện áp collector không thể đảo ngược cực tính. Thời hằng của gai âm lớn hơn thời hằng gai dương do đó gai âm suy giảm chậm hơn.
11-4Mạch giao hoán với tải dung
Mạch giao hoán với tải dung được vẽ trong hình 11-8(a). Tại thời điểm [SUB][/SUB], khi transistor bão hoà, điện áp ngõ ra và dòng collector là
[SUB][/SUB][SUB][/SUB]
Các đại lượng này được chỉ ra trong hình 11-8(d). Tại thời điểm [SUB][/SUB], khi mạch đi vào trạng thái tắt, mạch tương đương được vẽ trong hình 11-8(b). Điện áp collector tăng dần đến [SUB][/SUB] với thời hằng [SUB][/SUB].
Tại thời điểm [SUB][/SUB], ngõ vào đột ngột nâng lên, chuyển tiếp base – emitter được phân cực thuận và dòng base là [SUB][/SUB]. Điện áp collector tại thời điểm này là điện áp [SUB][/SUB] trên [SUB][/SUB]. Vì điện áp này phân cực ngược chuyển tiếp collector, transistor làm việc trong vùng tích cực với dòng collector là [SUB][/SUB]. Mạch tương đương dùng để tính quá trình xả của tụ được vẽ trong hình 11-8(c), với [SUB][/SUB] là hằng số. Điện áp ngõ ra bắt đầu từ [SUB][/SUB] và giảm xuống theo hàm mũ với thời hằng [SUB][/SUB] hướng đến giá trị xác lập [SUB][/SUB]. Khi [SUB][/SUB] và cho đến khi transistor trở lại trạng thái bão hoà, ngõ ra là
[SUB][/SUB] (11-3)
Các điều kiện này được vẽ trong hình 11-8(d), ở đây ta đã chỉ ra là [SUB][/SUB] vì [SUB][/SUB] là dòng collector bão hoà nên [SUB][/SUB] trong khi đó [SUB][/SUB]. Do đó [SUB][/SUB]. Khi collector giảm xuống đến [SUB][/SUB], transistor rơi vào trạng thái bão hoà, dòng collector giảm đến giá trị bão hoà [SUB][/SUB] và [SUB][/SUB] giữ tại [SUB][/SUB] như trong hình 11-8(d). Nếu [SUB][/SUB] thì [SUB][/SUB] giảm gần như tuyến tính theo thời gian và thời gian xuống nhỏ hơn nhiều so với thời gian lên.

Trong hình 11-8(d) ta đã ngầm giả sử là thời hằng rất nhỏ khi so với [SUB][/SUB] hoặc [SUB][/SUB]. Nếu thay vì vậy ta giả sử [SUB][/SUB] rất lớn hơn [SUB][/SUB] thì đường lên dạng hàm mũ có thể xấp xỉ với một hàm tuyến tính. Mạch hoạt động giống như một mạch tích phân và một điện áp bước ngõ vào sẽ chuyển thành hàm dốc ngõ ra.
Trả lời với trích dẫn


Trả lời


Công cụ bài viết
Kiểu hiển thị

Quyền viết bài
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

vB code is Mở
Mặt cười đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Mở
Chuyển đến

SangNhuong.com


Múi giờ GMT +7. Hiện tại là 05:20 AM